Thẻ chủ đề: #khoa-hoc

Mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Khoa học - (Phần 6)
Mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Khoa học - (Phần 6)
Mối quan tâm nhen nhóm từ những năm 1960 đối với nghệ thuật và khoa học đã tạo cơ hội để phát triển các công trình lai, cũng như các ý tưởng tương tự. Những công trình này là kết quả của sự hợp tác giữa các nghệ sĩ và các nhà khoa học, với nhiều phương pháp khác nhau. Nỗ lực thực hiện tác phẩm đòi hỏi một sự thay đổi về thể chất và trí tuệ của các nghệ sĩ, vốn là những người đề ra việc tham gia cùng các nhà khoa học để nắm bắt kiến ​​thức, thường dưới hình thức để các chuyên gia tự thảo luận, từ đó nhằm đặt câu hỏi về «sự đại diện văn hóa», với mục đích tạo ra hoặc sửa đổi những kiến thức này.
Mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Khoa học - (Phần 5)
Mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Khoa học - (Phần 5)
Việc sử dụng vật liệu sinh học trong các tác phẩm trở thành nhân tố kích thích một số nhà phê bình nghệ thuật nói đến nghệ thuật sinh học, nghệ thuật công nghệ sinh học hoặc nghệ thuật chuyển gen. Những tên gọi khác nhau này phản ánh sự lai tạp trong các tác phẩm kể trên và trong cách thực hiện chúng, cũng như tầm quan trọng của chất liệu nghệ thuật sống.
Mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Khoa học - (Phần 4)
Mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Khoa học - (Phần 4)
Trong những phần trước của bài nghiên cứu, chúng ta đã cùng tìm hiểu về những tác phẩm Bioart gây tranh cãi dư luận như Ánh sáng, chỉ mình Ánh sáng (Light, Only Light, 2003-2010), một tác phẩm điêu khắc bản sao chính xác bộ não của người nghệ sĩ, được làm bằng nhựa resin từ một loạt các hình ảnh chụp bằng cộng hưởng từ hay Rồi con ngựa sống trong tôi (Que le cheval vive en moi, 2006-2011) của nhóm Art Orienté Objet, tác phẩm sử dụng chính cơ thể người nghệ sĩ, Marion Laval-Jeantet, làm vật thí nghiệm để truyền máu ngựa vào cơ thể. Việc lựa chọn buổi biểu diễn cho thấy rõ khía cạnh phù du được tạo ra bởi việc sử dụng chất liệu sống, cũng như khó khăn trong việc tái tạo những trải nghiệm-sáng tạo này
Mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Khoa học - (Phần 3)
Mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Khoa học - (Phần 3)
Sau những sáng kiến ​​đầu tiên này, chủ yếu đến từ Mỹ, sự phân hóa bộ môn không hề chấm dứt, mà các lĩnh vực khoa học do các nghệ sĩ đầu tư lại ngày càng mở rộng. Từ những năm 1990, một số nghệ sĩ bắt đầu khám phá mối liên hệ giữa nghệ thuật và công nghệ sinh học, chẳng hạn như Jun Takita. Từng là sinh viên của Piotr Kowalski tại Đại học Mỹ Thuật Quốc gia Paris, Jun Takita từ khi bắt đầu làm việc với công nghệ sinh học đã nhận thức được tầm quan trọng về việc nắm vững dự án của mình cả về mặt khái niệm và kỹ thuậ
Mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Khoa học - (Phần 1)
Mối liên hệ giữa Nghệ thuật và Khoa học - (Phần 1)
Nghệ thuật và khoa học vốn đã làm phong phú lẫn nhau trong nhiều thế kỷ, tuy nhiên thế kỷ 20 đã đặc biệt tách rời hai lĩnh vực này bằng cách nhấn mạnh vào tính chuyên môn hóa của chúng. Dù vậy, trong những năm 1960, một số dự án với mục đích nghệ thuật đã bắt đầu quy tụ các nghệ sĩ và nhà khoa học, lấy cảm hứng từ phần lớn những tiến bộ khoa học của thời đại. Nhìn cụ thể hơn vào các tác phẩm nghệ thuật được tiến hành dựa vào công nghệ sinh học, có thể thấy rằng việc sản xuất có vẻ phức tạp, chính vì sự mong manh của chúng với tình trạng thường không ổn định hoặc dễ chết, và cần phải có các biện pháp phòng ngừa trong quá trình triển lãm.
Thực hành Nghệ thuật và Thực hành Khoa học - (Phần 5)
Thực hành Nghệ thuật và Thực hành Khoa học - (Phần 5)
Hôm nay, ta sẽ đến với phần cuối của bài nghiên cứu, tổng kết lại những nội dung trong suốt chuỗi bài vừa qua, để đi đến kết luận rằng : "Các hoạt động thực hành và biểu diễn nghệ thuật cũng như thực hành và thí nghiệm khoa học chỉ là những phương tiện tạo dựng mạng lưới linh hoạt giữa các đoàn thể và các nhân tố.
Thực hành Nghệ thuật và Thực hành Khoa học - (Phần 2)
Thực hành Nghệ thuật và Thực hành Khoa học - (Phần 2)
Trong phần đầu tiên của bài nghiên cứu, chúng ta đã cùng được hiểu thêm về cái gọi là ‘khí chất của khoa học’, thứ khí chất được xác định là “điều độc đáo diễn ra trong một khoảng cách nhất định, gần nhất có thể với trung tâm hiện tượng” mà nhà triết học Walter Benjamin đã từng sử dụng để xác định phẩm chất của một tác phẩm nghệ thuật.