Chữ viết là kết tủa, dạng rắn của ngôn ngữ. Nhưng còn hơn thế, đằng sau nguồn gốc, sự tiến hóa thì cách thức mà những con chữ được thêu dệt thành sản phẩm của một nền văn minh là một câu chuyện thật tuyệt vời.Đây là chuỗi bài viết cho bạn kiến thức về nguồn gốc của bảng chữ cái, từ sự hình thành những ký tự đầu tiên trên thế giới cho đến bảng chữ cái ngày nay mà chúng ta đang sử dụng. Phần đầu của câu chuyện, tôi sẽ đưa bạn đến với thế giới cổ xưa từ lúc bắt đầu của kiểu chữ tượng hình cho đến nền văn minh Etruscan.
Bảng chữ cái của chúng ta đến từ đâu?
Bạn có từng thắc mắc khi nhìn vào kí hiệu trên biển quảng cáo, bao bì, chữ viết trên sách vở, tạp chí; hay ngay lúc này đây khi bạn đang nhìn vào bài viết này - và tự hỏi - bảng chữ cái Latin này từ đâu mà có và từ đâu mà nó đã phát triển thành bảng chữ cái phong phú và phổ biến nhất thế giới? Typography - nghệ thuật và kỹ thuật sắp xếp con chữ- là một phát minh gần đây. Nhưng để thật sự khai thác hết nguồn gốc của con chữ, chúng ta cần quay về thật xa ở quá khứ, đến thời đại cùng với sự xuất hiện đầu tiên của nền văn minh nông nghiệp.Robert Bringhurst đã ví von: "Chữ viết là kết tủa, dạng rắn của ngôn ngữ. Nhưng còn hơn thế nữa, đằng sau nguồn gốc, sự tiến hóa thì cách thức mà những con chữ được thêu dệt thành sản phẩm của một nền văn minh là một câu chuyện thật tuyệt vời."
Câu chuyện cách đây khoảng hơn 5,000 năm trước, vậy nên chúng ta sẽ phải đi thật xa về quá khứ để gặp một vị hoàng đế vô cùng anh minh - Yorkshire, nàng công chúa Jezebel xứ Phoenician và bộ tộc "người tím", bạn sẽ phải băng qua sa mạc, gặp những đồng bằng phì nhiêu và đi thuyền xuyên qua đại dương, đi qua thời Trung Cổ và cả thời Phục Hưng, như vậy chúng ta sẽ đặt chân đến và khám phá nơi bảng chữ cái của chúng ta bắt đầu để giải đáp câu hỏi làm thế nào và tại sao nó lại phát triển được như ngày hôm nay, và cả những câu hỏi tại sao khác, ví dụ tại sao chữ A lại là A?Bảng chữ cái của người Sumer _ Cuneiform (chữ hình nêm)
Người Sumer đã bắt đầu những thử nghiệm đầu tiên với chữ viết vào khoảng cuối thiên niên kỷ thứ tư trước Công nguyên (TCN) ở Lưỡng Hà - vùng đất giữa sông Tigris và Euphrates (gần Iran ngày nay). Giống như hầu hết các hệ thống chữ viết, Cuneiform ban đầu được viết bằng cách chạm khắc, sau đó là viết lên những cục đất sét mềm, bắt đầu dưới dạng một loạt các biểu tượng - những hình ảnh đại diện cho chữ viết. Ví dụ từ Chim đầu tiên xuất hiện là hình ảnh đơn giản của một con chim. Hình bên dưới thể hiện cho chúng ta thấy được quá trình của sự trừu tượng hóa hay hợp lý hóa này. Theo thời gian, từ tượng hình không chỉ mô tả sự vật mà còn thể hiện được âm thanh. Rõ ràng là những chữ tượng hình đại diện cho âm thanh đòi hỏi ít ký tự hơn là khi thể hiện một sự vật hay một ý tưởng. Chúng ta sử dụng 26 chữ cái (người La mã chỉ sử dụng 23 chữ cái để tạo ra những tài liệu xuất sắc nhất mà thể giới đã biết đến) trong khi Trung Quốc đã phải nghiên cứu hàng ngàn ký tự mới có thể làm được điều đó. Ngay cả chữ hình nêm (Cuneiform) ban đầu cũng gồm khoảng 1,500 biểu tượng. Kiểu chữ dùng hình ảnh hay đồ thị đại diện cho một sự vật hay ý mà mình nói đến cũng có lợi thể riêng đó là dù chúng ta có thể nói bất kỳ ngôn ngữ nào đi chăng nữa thì cách viết chúng ra vẫn giống nhau. Ví dụ như người Trung Quốc đến từ những tỉnh phía Nam có thể nói một phương ngữ khác hoàn toàn với người đến từ Bắc Kinh, khi không nghe hiểu ngôn ngữ của nhau họ vẫn có thể hiểu nhau thông qua chữ viết.
1.1 Hình ảnh nguồn gốc của chữ Cuneiform
Hình 1.2 là một ví dụ của chữ tượng hình Cuneiform, một trong những ví dụ sớm nhất của chữ viết mà chúng ta đã biết. Hình dạng của chữ Cuneiform là sự tồn tại giữa dạng thuần túy nhất của chữ tượng hình nhưng hình thức lại trừu tượng hơn. Hơn thế nữa, vì không có những hướng dẫn chuẩn hay dạng cố định nên những ký hiệu này thường được xoay để phù hợp với hướng người viết - một con chim sẽ vẫn là một con chim dù bị xoay 360 độ.
1.2 Chữ tượng hình Cuneiform. Chủ đề: khẩu phần rượu.
1.3 Hình trụ Cyrus (hình nêm Akkadian) thế kỷ 6 TCN. Phòng trưng bày: Phòng 55, Bảo tàng Anh quốc. © Ủy viên Bảo tàng Anh
Chữ Hy lạp - Chữ viết của Chúa trời
Người Ai Cập đã phát triển một hệ thống chữ tượng hình tương tự, một số hình ảnh trong chúng rất quen thuộc. Các bản khắc chữ Hieroglyphic (chữ khắc thiêng liêng), giống như chữ Cuneiform, chữ tượng hình của họ cũng bắt đầu bằng hình ảnh đơn giản, và sau đó dùng hình ảnh trừu tượng hơn để thể hiện âm thanh. Khi nhìn vào những hình dạng khác nhau của chữ tượng hình Ai Cập chúng ta có thể hiểu rõ hơn từ ngữ mà những hình ảnh trừu tượng muốn đề cập đến. Trong khi bạn có thể thấy quen thuộc với chữ tượng hình mà người Ai Cập khắc (nghệ thuật điêu khắc trên đá) tuy nhiên còn chúng còn có rất nhiều hình thức và kiểu dáng khác nữa - tất cả đều chịu ảnh hưởng từ môi trường chúng được viết ra, mục đích và đối tượng mà người viết hướng tới.
2.1 Chữ tượng hình Ai cập
2.2 Chữ Hieratic nguyên bản ở triều đại thứ 12
2.3 Nguyên bản của kiểu chữ Demotic, thể kỷ III TCN
Bảng chữ cái đầu tiên -Wadi el-Hol
Cho đến khi phát hiện ra hai chữ khắc (graffiti - chữ khắc trên tường) ở Wadi el-Hol, Ai Cập vào năm 1999, người ta vẫn thường cho rằng sự bắt đầu của bảng chữ cái có thể được bắt nguồn từ khoảng 1600 đến 1500 TCN thuộc về người Phoenician, một tộc người thương nhân sống ở bờ biển Lebanon và Israel ngày nay. Tuy nhiên, phát hiện năm 1999 cho thấy, thay vì bảng chữ cái Semitic đầu tiên xuất hiện ở Syria-Palestine, nó đã được phát triển trước đó bởi những người nói tiếng Do Thái sống ở Ai Cập. Điều này tăng cường thêm vào giả thuyết có mối quan hệ chặt chẽ giữa chữ viết của Ai Cập và ảnh hưởng của chúng đối với bảng chữ cái Semitic hay bảng chữ cái proto-Sinaitic. Hơn nữa, nó đưa nguồn gốc của bảng chữ cái trở lại vào giữa năm 1900 đến 1800 TCN. Trong bức ảnh điêu khắc từ Wadi el-Hol bên dưới, dấu hiệu được đánh dấu bằng màu cam là ký hiệu một đầu bò (thuộc giống đực) - nguồn gốc của chữ A Latin, và một lá thư có lịch sử lâu dài - chữ tượng hình Cuneiform của người Sumer ban đầu cũng sử dụng đầu bò như một dấu hiệu.
3.1 Hình điêu khắc 1 từ Wadi el-Hol.
3.2 Mẫu tự Abecedary từ Ugarit
Proto Sinaitic
Đồng thời khi chữ ugaritic tồn tại ngắn ngủi đang được phát triển (một bảng chữ cái được chỉnh sửa từ chữ hình nêm), hệ thống bảng chữ cái khác bị ảnh hưởng bởi chữ tượng hình Ai Cập đã xuất hiện. Bảng chữ cái nguyên âm proto-Sinaitic này là chữ tượng hình, tuy nhiên mỗi hình ảnh lại tượng trưng cho âm thanh chứ không phải sự vật hay ý tưởng. Bảng chữ cái proto-Sinaitic thực sự là một điểm xuất phát, gốc rễ của bảng chữ cái hiện đại ngày nay, từ tiếng Ả Rập, tiếng Do Thái cho đến tiếng Hy Lạp và cả Latin.
4.1 Chữ proto-Sinaitic, năm 1500 TCN
4.2 Sự tiến hóa của chữ E
Người Phoenicia - Bộ tộc người Tím
6.1 Chữ của người Phoenicia - cuối Thế kỷ 11 TCN
Đầu tiên, Moloch, vị vua kinh hoàng đẫm máu Trong sự hy sinh của những đứa trẻ, và những giọt nước mắt của cha mẹ; Mặc dù tiếng ồn ào của trống và Tiếng khóc của con cái của họ xuyên qua màng lửa Tới với thần linh đáng sợ của ông. - từ Thiên đường đã mất của Milton
6.2 Bảng chữ cái Phoenician
Hy Lạp - khởi nguồn của nguyên âm
Mặc dù các chữ khắc Hy Lạp còn sót lại tồn tại từ thế kỷ thứ 8 trước Công nguyên - những môn thể thao Olympic đầu tiên được tổ chức vào năm 776 TCN - nhiều học giả cho rằng người Hy Lạp đã áp dụng chữ Do thái của người phương Tây (bảng chữ cái phụ âm của người Phoenicia) trước đó ba thế kỷ. Trong một thời gian dài (ít nhất là cho đến khi nhận được sự chấp nhận rộng rãi chữ Ionia vào thế kỷ thứ tư TCN), chữ Hy Lạp đã không đi theo phương thức cố định nào, được viết từ trái sang phải, phải sang trái hay ngang theo cả hai chiều. Boustrophedon từ tiếng Hy Lạp βουστροφηδόν "ox-turning" , là một loại văn bản hai chiều. Thay vì đi từ trái sang phải như trong tiếng Anh, hoặc sang trái như trong tiếng Hebrew và tiếng Ả Rập, thì chữ được viết theo dòng luân phiên và ta phải đọc theo các hướng ngược lại.
7.1 Giấy papyrus từ cây chỉ thảo (Artemisia) của người Hy Lạp, thế kỷ thứ 3 TCN, xem sách của Thompson, trang 119
7.2 Chữ Hy Lạp được phục hồi, thế kỷ 8 TCN
Văn minh Etruscan
Người Etruscan đến Ý từ Tây Ít Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ hiện tại). Từ khoảng năm 750 TCN, người Hy Lạp đến tận phía bắc của Naples, Ý. Finley viết về sự chìm đắm trong đam mê với mọi thứ của Hy Lạp - ngoại trừ sự ảm đạm về thế giới bên kia và thế giới ngầm đáng sợ. Người Etruscans không chỉ chấp nhận và áp dụng theo phần lớn nghệ thuật và lễ nghi tôn giáo của người Hy Lạp, quan trọng nhất trong câu chuyện này chính là việc họ đã thừa nhận bảng chữ cái Hy Lạp. La Mã ngày nay có thể không có đến một thị trấn là người Etruscan nhưng các vị vua La Mã từng là những người Etruscan. Sau cuộc tấn công thảm khốc trên thuộc địa của Hy Lạp cổ xưa nhất Cumae (địa danh xinh đẹp nằm trên một ngọn đồi cao trên bờ biển, mười dặm về phía bắc của Napoli) năm 524 trước Công nguyên, và việc trục xuất sau đó của nhà vua Etruscan đế quốc La Mã và nền văn minh đang suy yếu của họ, Tarquinius Superbus. Trong vòng vài thế kỷ đất nước Cộng hòa La Mã đã làm chủ nước Ý và thu hút toàn bộ người Etruscan.
8.1 Mẫu tự Abecedary từ Marsiliana, Etruria, khoảng năm 700 TCN
(còn tiếp)
Tác giả: John Boardlay
Người dịch: thuy
Nguôn: I love photography